Trang chủ > Triết, Lý luận chính trị > Câu hỏi và đáp án môn Lịch sử Đảng

Câu hỏi và đáp án môn Lịch sử Đảng

Tháng Mười Một 24, 2010 Để lại bình luận Go to comments

1. Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Ý nghĩa của việc Đảng cộng sản Việt Nam ra đời.

2. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa lịch sử của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam của Đảng trong thời kì 1939 – 1945. Ý nghĩa và những kinh nghiệm của cuộc khởi nghĩa Cách mạng 8/1945

3. Tình hình nước ta từ sau Cách mạng thánh 8/1945 đến tháng 12/1946 và chỉ thị kháng chiến chính quốc của thường vụ trung ương Đảng 25/11/1945. Ý nghĩa và những kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mĩ 1945-1954

4. Những nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam mà Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 15/1959. Ý nghĩa và những kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

5. Căn cứ vào đâu để Đảng ta vạch ra sự chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam và từng miền trong thời kì 1954-1975. Dựa trên cơ sở nào để các Hội nghị Bộ chính trị đợt 1 10/1974 và Hội nghị Bộ chính trị đợt 2/1975 nhằm vạch ra phương hướng chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong năm 1975.

6. Hoàn cảnh lịch sử và những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng 1986 đề ra. Tổng kết đánh giá những thành tựu, khuyết điểm của 20 năm thực hiện đường lối đổi mới ở nước ta mà  Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006

7. Phân tích và chứng minh rằng sự lạnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố quan trọng nhất quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

 

Đáp án tham khảo

Câu 1. Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam? Ý nghĩa của việc Đảng cộng sản Việt Nam ra đời?

1.Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam:Sau khi trở thành người CS, NAQ tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng CSVN.

a) Về mặt tư tưởng và chính trị:Người đã viết bài đăng các báo: “Người cùng khổ” do Người sáng lập, báo “Nhân đạo” – cơ quan TW Đảng CS Pháp, báo “Đời sống công nhân” – tiếng nói của giai cấp công nhân, báo Sự thật (Liên xô), Tạp chí thư tín quốc tế (quốc tế cộng sản), báo Thanh niên (VN thanh niên cách mạng đồng chí hội)…và các tác phẩm “Bản án chế độ thực dân pháp”, “Đường cách mệnh” mang tên Người. Qua nội dung các bài báo và các tác phẩm đó, Người tập trung lên án chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân nói chung và chủ nghĩa thực dân pháp. Người vạch trần bản chất xâm lược, phản động, bóc lột, đàn áp tàn bạo của chủ nghĩa thực dân. Bằng những dẫn chứng cụ thể, sinh động Người đã tố cáo trước dư luận Pháp và Thế giới tội ác tày trời của thực dân pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa. Đặc biệt, NAQ trình bày các quan điểm lý luận về cách mạng thuộc địa một cách đúng đắn, sáng tạo và khá hoàn chỉnh. Hệ thống quan điểm được truyền vào VN nhằm chuẩn bị về tư tưởng và chính trị cho việc thành lập Đảng.

b) Về mặt tổ chức:Tháng 12/1924, NAQ về Quảng châu (TQ), tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á-Đông để thống nhất hàh động chống chủ nghĩa thực dân.Tháng 6/1925, NAQ thành lập “Hội việt nam cách mạng thanh niên”, tổ chúc trung kiên là “Cộng sản đòan” làm nòng cốt trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mac-Lênin vào VN; mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo một số thanh niên yêu nước VN thành những cán bộ cách mạng, trong đó một số được chọn đi học ở trường Đai học Phương Đông (Liên xô); một số được cử đi học quân sự, phần lớn sau này được đưa về nước hoạt động.Nhờ có sự hoạt động của Hội việt nam cách mạng thanh niên nên phong trào cách mang trong nước phát trểin sôi nổi. Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng đòi hỏi phải có một tổ chức Đảng cách mạng lãnh đạo, vai trò của Hội việt nam cách mạng thanh niên không còn phù họp. Lần lượt ở VN ra đời 3 tổ chức cộng sản : Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (7/1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9/1929).Một yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải thống nhất các tổ chức Cộng sản ở VN thành một Đảng duy nhất để lãnh đạo cách mạng. Lãnh tựu NAQ đã đảm nhiệm trách nhiệm hợp nhất ba tổ chức Cộng sản để thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở VN. Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng sản VN ra đời.

2. Ý nghĩa của việc Đảng cộng sản Việt Nam ra đời:Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở VN (3/2/1930) mang tầm vóc đại hội thành lập Đảng. Hội nghị đã quy tụ 3 tổ chức cộng sản thành một Đảng cộng sản duy nhất ở VN theo đường lối chính trị đúng đắn, dẫn đến sư thống nhất về tư tưởng và hành động của phong trào cách mạng cả nước, tạo nên truyền thống đoàn kết của Đảng và dân tộc từ đó về sau.            Đảng CSVN ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử CM nước ta, chấm dứt cuộc khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước, chấm dứt sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, xác lập hệ tư tưởng vô sản trong cách mang VN.            Đảng ra đời là biểu hiện sự xác lập vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân VN, khẳng định quá trình từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác.            Đảng ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở VN trong thời đại mới. Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mac-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước VN trong những năm 20 của thế kỷ XX.          Đảng CSVN ra đời, CMVN trở thành một bộ phận khăng khit của CM Thế giới.          Đánh giá về sự kiện Đảng CSVN ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “ Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Câu 2. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa lịch sử của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam của Đảng trong thời kì 1939 – 1945. Ý nghĩa và những kinh nghiệm của cuộc khởi nghĩa Cách mạng 8/1945

1. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa lịch sử của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam của Đảng trong thời kì 1939 – 1945

a) Hoàn cảnh lịch sử:Ngày 1/9/1939 phát xít Đức xâm lược Ba Lan. Ngày 3/9/1939 Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh TG thứ hai bùng nổ và mau chóng lan ra khắp TG.            Ở Đông Dương thực dân pháp thực hiện chính sách thống trị thời chiến nhằm vơ vét sức người, sức của của nhân dân để phục vụ bộ máy chiến tranh của chúng.            Năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào xâm lượ Đông Dương, Pháp Nhật cấu kết với nhau thống tri và đàn áp bóc lột nhân dân ta.            Chiến tranh và chính sách thống trị của Pháp Nhật đã làm cho mâu thuẩn giữa toàn thể dân tộc VN với đế quốc xâm luợc và bọn tay sai của chúng ngày càng gay gắt, vấn đề giải phóng dân tộc được đặc ra. Lúc này đòi hỏi giải quyết cấp bách nguyện vọng của toàn thể nhân dân không chỉ là dân sinh, dân chủ mà là giành độc lập dân tộc.

b) Nội dung sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng: Nội dung chủ yếu được thể hiện qua Nghị quyết TW 6 (11/1939), Nghị quyết TW 7 (11/1940), Nghị quyết TW 8 (5/1941).

l Thứ nhất: Các nghị quyết trên điều khẳng định 2 nhiệm vụ chiến lược của CM dân tộc dân chủ mà Đảng đề ra từ 1930 là không thay đổi. Căn cứ vào tình hình, mâu thuẫn chủ yếu, Đảng quyết định đặc nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến được rải ra thực hiện từng bước.Hội nghị TW lần thứ 6 (11/1939) đã khẳng định “ Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp chống tất cả mọi ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giải phóng dân tộc”. Đặc biệt hội nghị TW 8 (5/1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã nêu bật “ nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước là nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta”.

l Thứ hai: Để tập họp lực lượng của toàn thể dân tộc, Đảng quyết định thành lập Mặt trận việt nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh, và giúp Lào, Campuchia thành lập mật trận riêng. Dự kiến sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp – Nhật sẽ thành lập chính phủ nhân dân của nước Việt nam dân chủ cộng hòa.

l Thứ ba: đảng chủ chương tiến hành chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hình thái khởi nghĩa ở nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa.

l Thứ tư: Chủ chương xây dựng Đảng lớn mạnh về mọi mặt để làm tròn vai trò tiên phong trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

c) Ý nghĩa:Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trên chứng tỏ sự trưởng thành của Đảng về khoa học, nghệ thuật chỉ đạo cách mạng. Đảng đã có nhận thức sâu sắc về qui luật chống đế quốc và địa chủ phong kiến, giải quyết đúng đắng vấn đề dân tộc và giai cấp.Sự chuyển hướng trên có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của CMT8/1945.

2. Ý nghĩa và những kinh nghiệm của cuộc khởi nghĩa Cách mạng  8/1945 - Cách mạng Tháng Tám là kết quả và đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Trong quá trình đó, Đảng đã xây dựng được một lực lượng chính trị hùng hậu; từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc, có chỗ đứng chân ngày càng vững chắc trong căn cứ địa cách mạng, giữ vai trò nòng cốt, xung kích, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. – Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ chức và lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám. Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, bắt rễ sâu trong quần chúng, đoàn kết và thống nhất, quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản nhất, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.- Trong 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng, biết bao đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng đã hy sinh oanh liệt. Hồ Chí Minh nói: "Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay.- Tất cả chúng ta phải noi theo các gương anh dũng, gương chí công vô tư ấy, mới xứng đáng là người cách mạng".- Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ trên đất nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, người làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập và tự do. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, không hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, "Chẳng những giai cấp lao động mà nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc".- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do.- Về mặt quốc tế, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần cống hiến lớn lao vào sự nghiệp giải trừ chủ nghĩa thực dân và giải phóng dân tộc trên thế giới.- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc.- Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh và đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Nó chứng tỏ rằng: ở thời đại chúng ta, một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa. Cuộc cách mạng đó quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở "chính quốc", nhưng không lệ thuộc vào cách mạng ở "chính quốc". Trái lại, nó có thể giành được thắng lợi trước khi giai cấp công nhân "chính quốc" lên nắm chính quyền.- Cách mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc. Những kinh nghiệm chính là: + Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. + Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công – nông + Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù + Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân + Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ + Xây dựng một Đảng Mác – Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền 

Câu 3: Tình hình nước ta sau CMT8 năm 1945 đến tháng 12/1946. Nội dung cơ bản Bản chỉ thị kháng chiến kiến quốc(25/11/1945) của Ban Thường vụ TW Đảng. Ý nghĩa và những kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1946-1954)

1. Tình hình nước ta sau CMT 8/1945 đến tháng12/1946:

· Thuận lợi: Trên thế giới , phong  trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ á mạnh mẽ, hệ thống XHCN đang hình thành và ngày càng lớn mạnh. Trong khi đó, hầu hết các nước tư bản đều suy yếu.Trong nước, nhân dân ta đã giành được chính quyền làm chủ đất nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh; rất gắn bó với chế độ mới nên sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm bảo vệ thành quả CMT8.Đây là những thuận lợi cơ bản để bảo vệ, giữ vững chính quyền CM.

· Khó khăn:Về kinh tế, nước ta vẫn cơ bản là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại chịu hậu quả nặng nề của chế độ củ, và của những năm chiến tranh. Nạn đói chưa được khắc pục. Thiên tai, lũ lụt lớn kéo dài. Ruộng đất bị bỏ hoang tới 50%. Sản xuất công nghiệp bị đình đốn. Ngân sách nhà nước chỉ còn hơn 1 triệu đồng, lại bị rách nát tới 1 nửa.Về văn hóa, hơn 90 % dân số mù chữ, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút… tràn lanChưa đến bao giờ trên đất nước ta có nhiều kẻ thù to lớn, nguy hiểm như lúc này. Ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa đồng minh kéo vào với âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản, chống phá Việt Minh. Núp sau chúng là bọn phản động Việt quốc, Việt cách tiến hành chống phá CM, gây rối ở nhiều nơi.Ở miền Nam, gần 2 vạn quân Anh kéo vào giải giáp quân Nhật, dọn đường cho pháp thực hiện âm mưu quay lại xâm lược Việt Nam. Tình hình CM hết sức khó khăn, như ngàn cân treo sợi tóc.Trước hai khả năng còn, mất, việc bảo vệ chính quyền hoàn tòan tùy thuộc vào nổ lực chủ quan của  Đảng và nhân dân ta.

2. Nội dung bảng chỉ thị kháng chiến chính quốc (25-11-1945) của Ban thường vụ TW Đảng:- Hoàn cảnh lịch sử:  Thắng lợi của CMT8 là thắng lợi lớn nhất trong suốt 15 năm đấu tranh CM của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta từ 1 Đảng hoạt động bất hợp pháp trở thành Đảng cầm quyền, nhân dân đc giải póng khỏi cuộc đời nô lệ trở thành chủ nhân đất nước rất pấn khởi bước vào XD chế độ mới._Nhưng CM nước ta thời kỳ này pải đương đầu với những khó khăn thử thách rất nghiêm trọng. Đất nước bị các thế lực đế quốc pản động bao vây tiến công. Nền ktế rất ảm đạm, tài 9 rất khó khăn, 95%dân số ko biết chữ, các tệ nạn XH mà chế độ cũ để lại còn nặng nề.-

Nội dung cơ bản:

+ Xác định tính chất, nhiệm vụ của CM Đông Dương lúc này vẫn là cuộc CM giải phóng dân tộc, khẩu hiệu đấu tranh  vẫn là “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”.            

+ Phân tích âm mưu của các đế quốc đối với Đông Dương, Trung Ương nêu rõ: Kẻ thù chính của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm luợc, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng.· Anh: thuộc địa chủ yếu Ấn Độ, sang theo lệnh đồng minh.· Nhật: Bại trận, trước sau gì cũng rút khỏi Việt Nam.· Tưởng: nếu có 1 chút quyền lợi từ sự thỏa thuận sẽ rút quân về nước. Cách mạng TQ đang phát triển mạnh nên chúng ta cần tập trung lực lượng để đối phó.· Pháp: sẽ ở lại lâu dài trên đất nước ta vì có lịch sử lâu dài trong việc khai thác, bóc lột nhân dân ta và đã xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật…           

+ Vì vậy phải “lập mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược”; mở rộng mặt trận Việt Minh nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân; thống nhất mặt trận Việt – Miên – Lào; kiên quyết giành độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc.

+  Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc nêu ra nhiệm vu cơ bản trước mắt của toàn dân tộc ta là củng cố chính quyền CM, chống thực dân pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân. Nhiệm vụ bao trùm là bảo vệ, củng cố chính quyền CM. Những biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ trên:           

+ Về nội chính: Xúc tiến bầu cử Quốc hội, thành lập chính phủ chính thức, XD hiến pháp, xử lý bọn phản động, củng cố chính quyền nhân dân.           

+ Về quân sự: Động viên lực lượng toàn dân trường kỳ kháng chiến.  

+ Về ngoại giao: Kiên trì nguyên tắc “bình đẳng, tương trợ, thêm bạn bớt thù”. Đối với quân Tưởng thực hiện khẩu hiệu “Hoa – Việt thân thiện”. Đối với Pháp Đảng ta chủ trương “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”.            Chỉ thị kháng chiến kiến quốc của ban thường vụ TW Đảng đã giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng của CM trong thời kỳ đổi mới vừa giành được chính quyền đưa đất nước vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

3. Ý nghĩa và những kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1946-1954): Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1946-1954) là cuộc chiến tranh CM giải póng dân tộc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến đó vừa có ý nghĩa dân tộc, vừa có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

a) Ý nghĩa lịch sử:- Thắng lợi của cuộc kháng chiến bảo vệ và á thành quả CMT8/1945, chấm dứt ách thống trị của bọn thực dân Pháp  trong gần 1 thế kỷ trên đất nước ta, giải póng hoàn tòan miền Bắc, hoàn thành CM dân tộc dân chủ nhân dân trên 1 nửa đất nước. CMVN đã chuyển sang 1 giai đọan mới: giai đọan tiến hành CM XHCN ở miền Bắc và CM dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam, hòan thành thống nhất nước nhà.- Thắng lợi đó đã cổ vụ mạnh mẽ các dân tộc bị nô dịch vùng lên chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân, vì độc lập tự do và dân chủ tiến bộ, báo hiệu 1 thời kỳ sụp đổ từng mảng của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, góp pần tích cực vào tiến trình á của CM thế giới.

b) Nguyên nhân thắng lợi:Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ giành được thắng lợi là do các nhân tố cơ bản sau:- Có sự lãnh đạo của Đảng với đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, có khối đoàn kết nhất trí của toàn dân, có mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng. Các Đảng viên của Đảng đã xung phong gương mẫu, dũng cảm đi đầu trong cuộc chiến đấu.- Có sự đòan kết chiến đấu toàn dân được tổ chức, tập hợp trong  Mặt trận dân tộc rộng rãi -  Mặt trận Liên – Việt, dựa trên nền tảng của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức.- Có lực lượng vũ trang gồm 3 thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây là lực lượng trực tiếp đóng vai trò quyết định tiêu diệt địch trên chiến trường. – Chúng ta có chính quyền dân chủ nhân dân, một chính quyền của dân, do dân, vì dân. Đây là 1 công cụ sắc bén của Đảng để tổ chức tòan dân kháng chiến và xây dựng chế độ mới.- Có hậu phương ngày càng mở rộng và củng cố về mọi mặt, bảo đảm chi viện ngày càng nhiều sức người, sức của cho mặt trận.- Có sự liên minh chiến đấu của 3 dân tộc Việt Nam, Lào,Campuchia chống kẻ thù chung và được sự đồng tình ủng hộ của các nước XHCN, của các dân tộc bị áp bức và các lực lượng hòa bình tiến bộ trên thế giới.

c) Những bài học kinh nghiệm:- Kế hợp đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến. Nhiệm vụ chống phong kiến phải tiến hành có kế hoạch, từng bước để vừa á lực lượng CM, vừa giữ vững khối đoàn kết dân tộc.- Xác định và quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân: toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính. Đây là bí quyết thắng lợi của cuộc kháng chiến.- Kiên quyết kháng chiến lâu dài, đi từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy. Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích.- Xây dựng Đảng vững mạnh và bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, có chủ trương và chính sách kháng chiến ngày càng hòan  chỉnh, có ý chí quyết chiến và quyết thắng kẻ thù. Có đội ngũ Đảng viên dũng cảm, kiên cường, là những chiến sĩ tiên phong trong chiến đấu và trong sản xuất.

Câu 4. Những nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam mà Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 15/1959. Ý nghĩa và những kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

1. Nội dung Nghị quyết 15 (1/1959):

l Về mâu thuẩn xã hội:    Xã hội Việt Nam có 2 mâu thuẩn cơ bản:+ Chủ nghiã đế quốc xâm lược với toàn thể nhân dân Việt Nam.+ Giữa con đường  XHCN với TBCN.   Miền Nam cũng có 2 mâu thuẩn cơ bản:+ Giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ xâm lược và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm.+ Giữa nhân dân ta mà trước hết là nông dân với điạ chủ phong kiến.

l Lực lượng cách mạng: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc & những nhân sĩ yêu nước, lấy liên minh công nông làm nền tảng.

l Động lực cách mạng: công nhân, nông dân.

l Đối tượng cuả cách mạng: đế quốc Mỹ, tư sản mại bản, địa chủ phong kiến & tay sai cuả đế quốc Mỹ.

l Nhiệm vụ cách mạng:+ Nhiệm vụ cơ bản cuả CMVN: giải phóng  miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc & người cày có ruộng, xây dựng nước VN hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.+ Nhiệm vụ trước mắt cuả cách mạng miền Nam là : đoàn kết toàn dân đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình  Diệm, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc & các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà.

l Phương pháp CM: bạo lực CM, khởi nghiã vũ tranh giành chính quyền về tay nhân dân.

2. Ý nghiã và những kinh nghiệm cuả cuộc kháng chiến chống Mỹ cưú nước:

* Ý nghĩa lịch sử:Với thắng lợi này, nhân dân ta đã quét sạch bọn đế quốc xâm lược, chấm dứt ách thống trị tàn bạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành trên phạm vi cả nước, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Bằng thắng lợi vĩ đại của mình, nhân dân ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất của chủ nghĩa đế quốc kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, làm suy yếu trận địa của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của chúng ở khu vực Đông Nam á, mở đầu sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân mới, góp phần tăng cường lực lượng của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình thế giới.

* Những kinh nghiệm lịch sử:Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm đã để lại nhiều kinh nghiệm có giá trị lịch sử và thực tiễn sâu sắc. – Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhằm huy động sức mạnh toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, được Đảng xác định ngay từ ngày mới ra đời. Bước vào giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, đứng trước âm mưu xâm lược miền Nam và chia cắt đất nước ta của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Đảng ta đã đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, hướng vào mục tiêu chung chủ yếu trước mắt của cách mạng cả nước là đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất nước nhà để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.             – Hết sức coi trọng việc xây dựng lực lượng cách mạng ở miền Nam, đồng thời ra sức tổ chức, xây dựng lực lượng chiến đấu trong cả nước. Lực lượng CM bao gồm tổ chức Đảng, chính quyền CM, Mặt trận dân tộc với khối liên minh công – nông là nền tảng, lực lượng vũ trang với ba thứ quân và đội quân chính trị quần chúng… Biết dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ mọi sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế.            – Phương pháp đấu tranh CM đúng đắn, sáng tạo (đó là sử dụng bạo lực CM tổng hợp bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân…); nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dà, đồng thời tạo ra thời cơ và nắm vững thời cơ mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tấn công và nổi dậy đồng loạt, giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là chiến lược tổng hợp và nghệ thuật quân sự của chiến tranh CM, chiến tranh nhân dân Việt Nam.- Có sự chỉ đạo và tổ chức chiến đấu tài giỏi của các cấp bộ Đảng và các cấp chỉ huy quân đội.
Câu 5. Căn cứ vào đâu đẻ Đảng ta vạch ra sự chuyển hướng chiến lược CMVN và từng miền vào thời kỳ 54 – 75. Dựa trên cơ sở nào để các hội nghị bộ chính trị: Đợt 1: Tháng 10 – 1974 và Đợt 2: Tháng 1 – 1975 nhằm vạch ra phương hướng chiến lược giải phóng miền Nam thống nhất đất nước trong năm 1975: Ðảng ta vạch ra sự chuyển hướng chiến lược CMVN và từng miền vào thời kỳ 54 – 75:

Đặc điểm tình hình thế giới 54-75 (4 điểm):- Trong quá trình xây dựng CNXH, đã đạt được nhiều thành tựu, là chỗ dựa cho CM thế giới trong đó có VN. Các nước XHCN cũng có những bất đồng trong các vấn đề đối nội và đối ngoại (chống chiến tranh, chống áp bức bốc lột, chống đói nghèo..). VN cũng chịu ảnh hưởng chính trị trong giải quyết cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.- Phong trào đấu tranh GPDânTộc phát triển ở các thuộc địa (Angheri, Ấn độ, Ai Cập, Angola,…), thế giới TưBản cũng bị chia rẽ tạo đk cách mạng ở VN, chia lửa cùng nhân dân VN.- Phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân sinh, dân chủ diễn ra ở các nước TB, dành sự ủng hộ tích cực các phong trào CM trên thế giới trong đó có cuộc kháng chiến của nhân dân ta (hơn 200 ủy ban phong trào đoàn kết về VN, 30 hội nghị quốc tế về VN, 50 quyên góp giúp VN)- Cuộc chiến tranh lạnh sâu sắc dẫn đến sự đối đầu loài người trước thảm họa hạt nhân, Mỹ theo học thuyết Xô-Mỹ ĐNA trong đó có VN được Mỹ hết sức quan tâmĐường lối chiến lược: (9/1960 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần 3 của Đảng thông qua nghị quyết về chiến lược CMVN và từng miền)

a) Đường lối chuyển hướng chiến lược cho CMVN:- Đoàn kết toàn dân cho đấu tranh cách mạng- Đẩy mạnh CM XHCN miền bắc, đẩu mạnh cách mạng ân chủ nhân dân ở miền nam- Xây dựng Vn hòa bình thống nhất, độc lập dân tộc dân chủ và giàu mạnh.

b) Đường lối chuển hướng chiến lược cho miền bắc:1. Đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước, lao động cần cù 2. Phải xây dựng chính quyền nhân dân chuyên chính vô sản, cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư doanh3. Thực hiện CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên XHCN (ưu tiên công nghiệp năng hợp lý, phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ)4. Đẩy mạnh CM XHCN về tư tưởng, KHKT5. Biến nước ta thành nước XHCN có VH, KHKT tiên tiến6. Xây dựng miền bắc là hậu phương cho CM7. Đẩy mạnh công tác ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân W

c) Đường lối chiến lược cho miền nam:1. Đoàn kết toàn dân kiên quyết đấu tranh đế quốc Mỹ, đánh đổ tập đoàn Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền nam, tích cực bảo vệ hòa bình ở ĐNA và thế giới.2. Xây dựng củng cố lực lượng vũ trang nhân dân, căn cứ địa cách mạng3. Kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị quân sự, đánh địch với 3 mũi giáp công, 3 vùng chiến lược.4. Quán triệt tư tưởng liên tục tiến công tạo thế và lực, tạo so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta

Dựa trên cơ sở:Cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Pari đã kéo dài 4 năm 9 tháng với 202 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn đã kết thúc vào ngày 27-1-1973 với “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết. Theo Hiệp định Pari về Việt Nam, Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; Hoa Kỳ cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Hoa Kỳ cam kết rút hết quân đội, các loại nhân viên, cố vấn, vũ khí đạn dược của Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Hiệp định còn xác định nghĩa vụ của Hoa Kỳ phải đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và toàn Đông Dương.            Với việc ký kết Hiệp định Pari, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã giành thêm thắng lợi hết sức to lớn và có tính chất quyết định. Nhân dân ta đã đạt được mục tiêu quan trọng hàng đầu là đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đây là cơ hội lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Mặc dù bị thất bại nặng nề, phải ký Hiệp định Pari, chấp nhận rút quân về nước, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố, không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược Việt Nam, tiếp tục tiến hành chiến tranh để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới và chia cắt lâu dài đất nước ta. Một trong những mục tiêu chiến tranh mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đề ra trong kế hoạch 3 năm (1973 – 1976) là chiếm lại toàn bộ vùng giải phóng của ta, xóa bỏ hình thái “da báo” ở miền Nam, nhằm biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt, lệ thuộc vào Mỹ. Ngay sau khi Hiệp định Pari được ký kết, dưới chỉ đạo của Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ngang ngược phá hoại hiệp định, liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Riêng năm 1973, chúng đã tiến hành hàng ngàn cuộc hành quân quy mô lớn và đã chiếm lại hầu hết các vùng giải phóng mới của ta, trong đó có cảng Cửa Việt (Quảng Trị) bị chiếm ngay đêm 27-1-1973. Trong vùng chúng kiểm soát, cũng đã diễn ra liên tiếp các cuộc hành quân càn quét và “bình định” nhằm khủng bố, đàn áp, bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, chống lại nguyện vọng hòa bình, hòa hợp dân tộc của nhân dân miền Nam, gây thêm nhiều tội ác đối với đồng bào ta. Trước tình hình nghiêm trọng nói trên, tháng 7-1973, Hội nghị lần thứ hai mươi mốt Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã nêu rõ con đường cách mạng của nhân dân miền Nam là con đường bạo lực cách mạng và nhấn mạnh: bất kể trong tình huống nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công.            Nhiệm vụ giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới. Tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng là tích cực phản công, chuẩn bị tiến lên hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thực hiện Nghị quyết của Đảng, từ cuối năm 1973 và cả năm 1974, quân và dân ta ở miền Nam đã liên tiếp giành được thắng lợi to lớn trên khắp các chiến trường, từ Trị – Thiên đến tây Nam Bộ và vùng ven Sài Gòn, phá vỡ từng mảng lớn kế hoạch “bình định” của địch, mở rộng thêm nhiều vùng giải phóng, tiêu diệt nhiều cụm cứ điểm, chi khu, quận lỵ, bức rút nhiều đồn bốt, dồn địch vào thế đối phó lúng túng, bị động. Đặc biệt, cuối năm 1974 đầu năm 1975, quân ta đánh chiếm thị xã Phước Long (ngày 6-1-1975), giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, địch không còn khả năng đánh chiếm trở lại Phước Long. Tình thế này chứng tỏ quân chủ lực cơ động của ta đã mạnh hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch, khả năng giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín muồi. Trước yêu cầu phát triển của cuộc chiến tranh cách mạng vào giai đoạn cuối, từ tháng 10-1973 trở đi, trong quân đội ta đã xúc tiến thành lập các quân đoàn chủ lực có đủ các thành phần binh chủng kỹ thuật, hợp thành những quả đấm mạnh, có khả năng cơ động cao, hoạt động trên những hướng chủ yếu, nhằm tiêu diệt quân chủ lực của địch. Tuyến đường chiến lược phía Đông Trường Sơn nối liền từ Đường 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ đã được thông suốt. Một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh như xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo tầm xa, pháo cao xạ cùng hàng chục vạn tấn vật chất các loại đã được chuyển tới các chiến trường. Hệ thống đường ống dẫn xăng dầu được nối liền từ miền Bắc vào đến chiến trường miền Đông Nam Bộ đã sẵn sàng phục vụ. Từ ngày 30-9 đến 8-10-1974, Hội nghị Bộ Chính trị đợt một bàn về chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đợt hai của Hội nghị Bộ Chính trị họp từ ngày 8-12-1974 đến ngày 7-1-1975 đã nhận định: Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị đề ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam với kế hoạch hai năm 1975 – 1976 mà tinh thần là: năm 1975 tranh thủ bất ngờ tấn công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích – tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ngoài kế hoạch nói trên, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương hướng hành động linh hoạt là nếu thời cơ đến, vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Chấp hành quyết định chiến lược nói trên, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 diễn ra trên toàn miền Nam, trong đó quyết định là ba đòn tiến công chiến lược. Đó là Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế, Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đã diễn ra từ ngày 10-3 đến ngày 30-4-1975. Vào 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ cách mạng phấp phới bay trên nóc Dinh Độc lập, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã toàn thắng.

Câu 6. Hoàn cảnh lịch sử và những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng 1986 đề ra? Tổng kết đánh giá những thành tựu, khuyết điểm của 20 năm thực hiện đường lối đổi mới ở nước ta mà  Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006?

1. Hoàn cảnh lịch sử và những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng 1986:* Hoàn cảnh lịch sử:

- Về quốc tế: Trong những năm 1981-1985 nhân dân ta vẫn nhận được sự giúp đỡ và sự hợp tác nhiều mặc của liên xô và các nước XHCN khác…- Về trong nước: Trong thời kỳ 1981-1985 chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu: cơ bản ổn định tình hình kinh tế – xã hội, ổn định đời sống của nhân dân. Nền kinh tế – xã hội ở nước ta ở vào tình trạng khủng hoảng. Sự nghiệp CM XHCN ở nước ta bên cạnh những thành tựu cũng còn nhiều khó khăn. Thực trạng đó đòi hỏi đảng phải mạnh mẽ sự lãnh đạo, đổi mới tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế nhằm đưa nước ta vượt qua khó khăn, tiếp tục tiến lên.

* Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới:

- Đại hôi Đảng khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng thực trạng của đất nước, Đảng đã phân tích sâu sắc cái sai lầm, yếu kém, nhất là những sai lầm về chính sách kinh tế…

- Từ sự phân tích một cách khách quan, khoa học tình hình cách mạng nước ta. Đại hội đã nêu lên những bài học kinh nghiệm lớn.           

- Về nhiệm vụ chiến lược, Đại hội khẳng định: toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đòan kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.           

- Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặn đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặn đường tiếp theo.           

- Mục tiêu cụ thể về kinh tế – xã hội là:· Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.· Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất.· Xây dựng và hòan thiện một bước quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.· Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội.· Bảo đảm nhu cầu cũng cố quốc phòng và an ninh.- Để thực hiện 5 mục tiêu trên Đại hội đề ra hệ thống các giải pháp. Về bố trí cơ cấu kinh tế: sắp xếp lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu tư. Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là xóa bỏ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN;  Về xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất: sử dụng các thành phần kinh tế, đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khácnhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế ấy…; Về phát huy động lực khoa học, kỹ thuật: phải làm cho khoa học kỹ thuật thật sự trở thành động lực to lớn đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước; Về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại: mở rộng quan hệ hợp tác với liên xô, lào, campuchia…; Về chính sách xã hội, Đảng chỉ rõ: chính sách xh nhằm phát huy mọi khả năng của con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất.- Tư tưởng cốt lõi là giải phóng mọi năng lực sx hiện có, khai thác mọi tiềm năng của đất nước, sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển lực lượng sx đi đôi với xây dựng và cũng cố quan hệ sx.- Trước mắt cần tập chung sức người, sức của vào việc thực hiện 3 chương trình mục tiêu: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; đây cũng là sự cụ thể quá nội dung chính của công nghiệp hóa XHCN trong chặn đường đầu tiên của thời kỳ hóa độ.- Đại hội VI là Đại hội kế thừa, phát trểin những thành tựu đã đạt được, khởi xướng công cuộc đổi mới tòan diện, đưa nước ta bước vào vai đọan phát triển mới.

2. Tổng kết đánh giá những thành tựu, khuyết điểm của 20 năm thực hiện đường lối đổi mới ở nước ta mà  Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 (Theo Vietnamnet):

Đánh giá thành tựu của công cuộc đổi mới, Đại hội nhấn mạnh: “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử”. Ðến nay, mặc dù còn không ít khó khăn, hạn chế, đất nước ta đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế ra khỏi khủng hoảng và có sự tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh. Ðời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị – xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Ðảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Từ thực tiễn đổi mới, Ðảng và Nhà nước ta càng tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm lãnh đạo và quản lý. Có thể rút ra một số bài học lớn sau đây:Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ðổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn để đi tới thắng lợi. Ðổi mới không phải là xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Ðảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.         Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Ðảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Ðổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng không làm đồng loạt, dàn đều, mà phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Ðảng là then chốt và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội.Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Ðảng. Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực tiễn phong phú của nhân dân, thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật các mặt của cuộc sống để đi lên – đó là chìa khóa của thành công.Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển; đồng thời coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Hội nhập và hợp tác quốc tế phải dựa trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc.Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; Nhà nước phải thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người. Phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.Xác lập những mối quan hệ hợp lý giữa Ðảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể nhân dân thông qua hệ thống cơ chế thích hợp, làm cho tất cả các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện ngày một tốt hơn, từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta còn nhiều khuyết điểm và yếu kém:Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Cơ chế, chính sách về văn hoá – xã hội chậm đổi mới; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt. Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế. Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn một số khâu chậm đổi mới. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu.Có những khuyết điểm đó là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chủ yếu là những nguyên nhân chủ quan như : Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới; một số vấn đề ở tầm quan điểm, chủ trương lớn chậm làm rõ nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo, điều hành. Sự chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt, nhất là trong ba lĩnh vực : xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất, năng lực và tinh thần trách nhiệm, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ.Những khuyết điểm nói trên, trước hết thuộc về trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp là của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Ban Chấp hành Trung ương xin tự phê bình nghiêm túc về những khuyết điểm của mình trước Đại hội và trước nhân dân.

Câu 7. Phân tích và chứng minh rằng sự lạnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố quan trọng nhất quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam:

Lịch sử cách mạng nước ta chứng minh: ĐCSVN luôn là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng nước ta.           

Sự kiện ĐCSVN ra đời bước lên vũ đài chính trị đã chấm dứt thời kỳ khủng hỏang về đường lối cứu nước, chấm dứt thời kỳ đấu tranh tự phát, chuyển lên thời kỳ đấu tranh tự giác của giai vấp công nhân. Nó chứng tỏ giai cấp này đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo CMVN. Trong hơn 7 thập kỷ qua, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta trải qua những chặng đường lịch sử oanh liệt, giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc, đó là:           

- Mới 15 tuổi, nhờ kiên quyết đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền trên phạm vi cả nước, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp hơn 80 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm nay, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi đó đã đưa cách mạng nước ta bước vào 1 kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do hướng tới CNXH.

- Thời kỳ 1945-1954, Đảng đã lãnh đạo nhân dân chống thù trong, giặc ngòai, giữ vững chính quyền, tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm thắng lợi, giải phóng miền Bắc.           

- Từ 1954-1975, Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành nhiều thành tựu to lớn trên miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước lên CNXH.

- Từ 1975 đến nay, Đảng lãnh đạo nhân dân ta thu được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng & bảo vệ Tổ quốc, thực hiện đường lối đổi mới, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng và đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sở dĩ có được những thắng lợi đó là vì:           

- Đảng đại biểu trung thành & đầy đủ lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của giai cấp công nhân, nhân dân lao động & của cả dân tộc VN. Độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân là mục đích  của Đảng. Đảng luôn trung thành với Tổ quốc, nhân dân đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, được nhân dân tin yêu….           

- Đảng luôn quán triệt trong mọi hoạt động của mình quan điểm: sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, phải lấy dân làm gốc. Dựa vào quần chúng, toàn tâm phục vụ quần chúng, giữ vững mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng là truyền thống, là nguồn sức mạnh to lớn của Đảng. – Đường lối của Đảng luôn phản ánh quyền lợi, nguyện vọng và khả năng của quần chúng. Cho nên Đảng luôn được quần chúng tin yêu & ủng hộ. Sự nghiệp xây dựng CNXH là quán triệt to lớn, mới mẻ, Đảng càng phải quán triệt bài học “lấy dân làm gốc”, phải cố gắng hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng Nhà nước với nhân dân.- Đảng phải biết nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn. Đảng luôn có ý thức vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ đó mà đề ra được đường lối đúng đắn.Tuy vậy trong sự nghiệp cách mạng XHCN, Đảng cũng mắc những sai lầm, khuyết điểm, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu là do chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan …Từ Đại hội VI đến nay, Đảng luôn quán triệt tư tưởng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan đề ra đường lối đúng, mà thước đo của đường lối đúng là sản xuất á, chính trị ổn định, đời sống của nhân dân ko ngừng được cải thiện.

Seventh entry

  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.